⚠️ Lưu ý
- Trước khi sử dụng thuốc bạn cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng và tham khảo thông tin bên dưới.
Chống chỉ định
Thuốc Utralene 100 chống chỉ định trong các trường hợp sau:
-
Người quá mẫn cảm với sertraline hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc.
-
Sertraline không được sử dụng đồng thời với các chất ức chế monoamino oxidase (MAX) bao gồm selegiline, moclobemide và linezolide-một chất kháng khuẩn có tác dụng ức chế thuận nghịch monoamino oxidase (MAO).
-
Setraline không được sử dụng đồng thời với pimozide.
Thận trọng khi sử dụng
Sử dụng cho trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi
- Viên nén bao phim serraline không nên sử dụng điều trị cho trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi.
- Các hành vi liên quan đến việc tự sát (thứ tự sát và có ý nghĩ tự sát), và thái độ chống đối (chủ yếu là gây hấn, có hành động chống đối và tức giận) thường được quan sát thấy nhiều hơn trong các thử nghiệm lâm sàng ở trẻ em và thanh thiếu niên được điều trị bằng các thuốc chống trầm cảm so với khi điều trị bằng giả dược.
- Nếu do sự cần thiết về lâm sàng mà phải sử dụng thuốc, các bệnh nhân này phải được giám sát cẩn thận về nguy cơ xuất hiện triệu chứng muốn tự sát. Hơn nữa, tài liệu về tính an toàn của thuốc về lâu dài trên trẻ em và thanh thiếu niên đối với sự phát triển, sự trưởng thành, nhận thức và hành vi cư xử còn hạn chế.
Hội chứng Serotoninergic
- Các trường hợp có một vài phản ứng nghiêm trọng đe dọa tính mạng đã được báo cáo ở các bệnh nhân sử dụng sertraline phối hợp với 1 thuốc ức chế monoamino oxidase (MAOI). Do đó viên sertraline không được sử dụng đồng thời với các thuốc ức chế MAO bao gồm selegiline ức chế MAO chọn lọc và moclobemide ức chế MAO thuận nghịch (RIMA), hoặc với linezolide.
- Sử dụng đồng thời sertraline với các chất serotoninergic khác như tryptophan, fenfluramine và các chất chủ vận serotonin không được đề nghị do nguy cơ có các phản ứng có hại nghiêm trọng. Viên sertraline có thể bắt đầu sử dụng sau 14 ngày ngừng điều trị với thuốc ức chế MAO không thuận nghịch. Ít nhất sau 14 ngày ngừng sử dụng sertraline, có thể bắt đầu điều trị với một thuốc ức chế MAO hoặc ức chế MA0 thuận nghịch.
- Do đó khi thay đổi các thuốc ức chế chọn lọc hấp thu serotonin hay các thuốc chống trầm cảm khác cần thận trong để tránh nguy cơ tương tác về dược học. Theo dõi cẩn thận về lâm sàng đặc biệt quan trọng khi sertraline được bắt đầu sử dụng sau khi ngừng một thuốc chống trầm cảm có thời gian bán thải kéo dài như fluoxetine. Không có tài liệu chứng minh rõ rệt về thời gian giãn cách cần thiết giữa các đợt điều trị khi chuyển từ thuốc chống trầm cảm này sang thuốc chống trầm cảm khác.
- Các đặc trưng chủ yếu của hội chứng serotoninergic là thân nhiệt cao, giật rung cơ, mất tự chủ với khả năng thay đổi nhanh chóng các biểu hiện quan trọng, thay đổi trạng thái tinh thần bao gồm lẫn lộn, dễ cáu kỉnh, cuối cũng là tâm trạng bối rối lo âu dẫn đến tình trạng mê sảng và hôn mê.
- Các chất ức chế serotoninergic khác bao gồm dextromethorphan, pethidine, tramadol và các chất ức chế chọn lọc hấp thu serotonin khác.
Hành động tự sát, ý muốn tự sát hoặc các biểu hiện xấu đi trên lâm sàng
- Bệnh trầm cảm có kiên quan đến sự gia tăng nguy cơ có ý muốn tự sát, tự gây hại cho bàn thân và có hành động tự sát (có các hành động liên quan đến tự sát). Nguy cơ này luôn tồn tại cho đến khi bệnh thuyên giảm đáng kể. Nếu tình trạng bệnh không được cải thiện sau vài tuần điều trị đầu tiên hoặc hơn, các bệnh nhân cần được giám sát cẩn thận cho đến khi tình trạng bệnh nhân tốt lên. Kinh nghiệm phổ biến trên lâm sàng là nguy cơ tự sát có thể tăng trong giai đoạn sớm của sự bình phục.
- Các bệnh nhân tiền sử có các hành động liên quan đến tự sát, hoặc có biểu hiện rõ rệt của ý muốn tự sát trước khi bắt đầu điều trị, được biết là có nguy cơ lớn hơn của việc có ý muốn tự sát hay cố tự sát, và cần giám sát chặt chẽ các bệnh nhân này trong suốt quá trình điều trị.
- Bằng phân tích thu được từ các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát việc sử dụng các thuốc chống trầm cảm ở người lớn bị rối loạn tâm thần cho thấy nguy cơ gia tăng hành vi tự sát ở nhóm sử dụng thuốc chống trầm cảm so với nhóm dùng giả được đối với các bệnh nhân dưới 25 tuổi. Cần giám sát chặt chẽ bệnh nhân và lưu ý đến nguy cơ cao này khi sử dụng thuốc, đặc biệt trong giai đoạn đầu của quá trình điều trị hoặc sau khi thay đổi liều. Các bệnh nhân (và người chăm sóc bệnh nhân) cần được thông báo về việc cần thiết phải giám sát bất kỳ biển đồi xấu nào trên lâm sàng, hành động tự sát hoặc ý muốn tự sát và các biến đổi bất thường trong hành vi và cần hỏi ý kiến bác sỹ ngay khi xuất hiện các triệu chứng trên.
Tình trạng ngồi, nằm không yên/rối loạn tâm thần vận động
- Việc sử dụng sertraline có liên quan đến sự tiến triển của tình trạng rối loạn tâm thần vận động, biểu hiện trên lâm sàng có thể rất giống như tình trạng nằm ngồi không yên, đặc trưng bởi sự khó chịu trong người hay lo âu, lo lắng và cần thường xuyên cử động, không thể đứng hoặc ngồi yên một chỗ. Điều này hầu hết xuất hiện trong vài tuần đầu điều trị. Ở các bệnh nhân phát triển các triệu chứng này, việc tăng liều có thể gây bất lợi.
Các triệu chứng khi ngừng sử dụng sertraline
- Các triệu chứng cai nghiện khi ngừng sử dụng thuốc thường là phổ biến, đặc biệt ở các bệnh nhân ngừng thuốc đột ngột. Trong các thử nghiệm lâm sàng, các tác dụng có hại quan sát được khi ngừng sử dụng thuốc xuất hiện ở xấp xỉ 20% bệnh nhân điều trị với sertraline.
- Nguy cơ của các triệu chứng cai nghiện có thể tùy thuộc vào một số yếu tố bao gồm liều dùng, thời gian sử dụng thuốc và tốc độ giảm liều. Hoa mắt, chóng mặt, rối loạn các giác quan (bao gồm dị cảm và cảm giác sốc điện), rối loạn giấc ngủ (bao gồm chứng mất ngủ và gặp ác mộng), tâm trạng bối rối hoặc lo âu, buồn nôn hoặc nôn, run, lẫn lộn, đổ mồ hôi, đau đầu, tiêu chảy, đánh trống ngực, tinh thần bất ổn, dễ cáu kỉnh và rối loạn thị giác đã được báo cáo sau khi ngừng sử dụng các chất ức chế chọn lọc hấp thu serotonin/các chất ức chế tái hấp thu serotonin norepinephrine.
- Thông thường các triệu chứng này xảy ra từ nhẹ đến trung bình, tuy nhiên, một số bệnh nhân, chúng có thể nặng đến mức trầm trọng. Các phản ứng có hại có thể xuất hiện trong vòng vài ngày đầu tiên sau khi ngừng thuốc, tuy nhiên, đã có báo cáo về các triệu chứng này ở một số rất hiếm bệnh nhân tình cờ quên 1 liều dùng. Thông thường các triệu chứng này có giới hạn và thường hết trong vòng 2 tuần, tuy vậy ở một vài trường hợp cá biệt, chúng có thể kéo dài (tới 2 – 3 tháng hoặc hơn). Do đó cần ngừng điều trị với sertraline với mức liều giảm dần trong vòng vài tuần đến vài tháng, tùy theo sự cần thiết đối với bệnh nhân.
Làm tăng chứng điên hoặc hưng cảm nhẹ
- Trong các thử nghiệm lâm sàng, chứng điên cuồng hoặc hưng cảm nhẹ đã được ghi nhận ở xấp xỉ 0,4% bệnh nhân. Do đó, sertraline cận được sử dụng thận trọng ở các bệnh nhân có tiền sử mắc chứng điên và hưng cảm nhẹ. Bác sĩ cần giám sát bệnh nhân một cách chặt chẽ. Cần ngừng sử dụng sertraline khi bệnh nhân bắt đầu giai đoạn điên cuồng.
Bệnh tâm thần phân liệt
- Các triệu chứng loạn thần kinh có thể trở nên trầm trọng hơn ở các bệnh nhân tâm thần phân liệt.
Các rối loạn gây co giật
- Trong các nghiên cứu về bệnh trầm cảm, hiện tượng lên cơn động kinh được báo cáo ở xấp xỉ 0,08% bệnh nhân điều trị với sertraline.
- Vì sertraline chưa được nghiên cứu trên bệnh nhân bị các rối loạn gây co giật, tránh dùng thuốc cho các bệnh nhân bị lên cơn động kinh thất thường, và chỉ được sử dụng thuốc cho các bệnh nhân động kinh ổn định kiểm soát được với sự theo dõi chặt chẽ. Nếu cơn động kinh xuất hiện, cần ngừng điều trị với sertraline.
Điều trị bằng sốc điện
- Có rất ít kinh nghiệm về việc sử dụng thuốc đồng thời với điều trị bằng sốc điện, cần thận trọng trong trường hợp này.
Bệnh đái tháo đường
- Ở các bệnh nhân đái tháo đường, điều trị với một thuốc ức chế chọn lọc tái hấp thu serotonin có thể gây biến đổi sự kiểm soát đường huyết. Các mức đường huyết cần được kiểm tra thường xuyên. Liều của insulin hoặc các thuốc hạ đường huyết dạng uống có thể cần được điều chỉnh.
Xuất huyết
- Đã có các báo cáo về hiện tượng xuất huyết dưới da một cách bất thường như bầm máu và ban xuất huyết khi sử dụng các thuốc ức chế chọn lọc tái hấp thu serotonin. Cần thận trọng khi cho bệnh nhân sử dụng các thuốc này, đặc biệt là khi dùng đồng thời với các thuốc chống động, các thuốc được biết có ảnh hưởng đến chức năng của tiểu cầu (như các thuốc ức chế tâm thần không điển hình và các phenothiazin, hầu hết các thuốc chống trầm cảm 3 vòng, acid acetylsalicylic và các thuốc kháng viêm không steroid) cũng như ở các bệnh nhân có tiền sử, rối loạn chảy máu.
Bệnh tim
- Độ an toàn của sertraline chưa được thiết lập ở các bệnh nhân mới trải qua cơn đau tim hay các bệnh nhân bệnh tim không ổn định. Các bệnh nhân được chẩn đoán có các rối loạn này được loại trừ khỏi các nghiên cứu lâm sàng. Điện tâm đồ của các bệnh nhân dùng sertraline trong các nghiên cứu lâm sàng theo phương pháp mà đối cho thấy sertraline không liên quan đến sự bất thường một cách đáng kể của điện tâm đồ.
Người già
- Kiểu và tỉ lệ mắc phải các tác dụng không mong muốn ở các bệnh nhân già có thể so sánh được với các bệnh nhân trẻ tuổi. Bệnh nhân già nhạy cảm hơn với các tác dụng không mong muốn của thuốc chống trầm cảm. Khả năng bị giảm natri huyết, đặc biệt là các trường hợp sử dụng đồng thời với các thuốc có khả năng gây ra các bất thường này, cần được lường trước, nhất là ở các bệnh nhân già, trong các trường hợp thiếu dinh dưỡng và các bệnh nhân xơ gan.
Người suy giảm chức năng gan
- Sertraline được chuyển hóa rộng rãi ở gan. Các nghiên cứu về dược động học của liều nhắc lại của thuốc ở các bệnh nhân xơ gan nhẹ và ổn định cho thấy thời gian bán thải kéo dài hơn, diện tích dưới đường cong nồng độ thời gian AỤC và nồng độ cực đại trong huyết tương (Cmax) cao xấp xỉ gấp 3 lần so với các bệnh nhân có chức năng gan bình thường. Không có sự khác nhau đáng kể về độ gắn kết với protein huyết tương được quan sát thấy giữa các nhóm. Sertraline không được sử dụng cho các bệnh nhân suy gan nặng.
Người suy giảm chức năng thận
- Do thuốc được chuyển hóa chủ yếu ở gan, chỉ một phần không đáng kể sertraline được bài tiết qua thận dưới dạng không biến đổi. Ở các bệnh nhân suy giảm chức năng thận nhẹ đến trung bình (độ thanh thải ceatinin 3060ml/phút) hay từ trung bình đến nặng (độ thanh thải ceatinin 10 – 29ml/phút), các chỉ số dược động học (AUC0-24 và Cmax) sau khi dùng liều nhắc lại không khác đáng kể so với ở các bệnh nhân có chức năng thận bình thường.
- Thời gian bán thải là như nhau và không thấy sự khác nhau về độ gắn kết với protein huyết tương giữa các nhóm nghiên cứu. Nghiên cứu này cho thấy rằng, như đã quan sát được trong các trường hợp tốc độ thanh thải thận thấp, liều của sertraline không cần phải điều chỉnh ở các bệnh nhân suy giảm chức năng thận. Tuy nhiên, dược động học ổn định của sertraline chưa được nghiên cứu đầy đủ ở quần thể bệnh nhân này, do đó cần thận trọng khi sử dụng thuốc cho người bị suy thận.
Khả năng lái xe và vận hành máy móc
- Các thuốc hướng thần nói chung có thể làm suy giảm khả năng làm việc về trí tuệ hay cơ bắp cần thiết cho những công việc có nguy cơ tiềm ẩn cao như lái xe và vận hành máy móc. Do đó, bệnh nhân cần được cảnh báo về điều này.
Thời kỳ mang thai
- Không có các nghiên cứu đầy đủ và được kiểm soát chặt chẽ ở phụ nữ mang thai. Sertraline chỉ được sử dụng cho phụ nữ có thai khi lợi ích của việc điều trị lớn hơn khả năng gây rủi ro cho thai nhi.
Thời kỳ cho con bú
- Không biết sertraline có bài tiết vào sữa mẹ hay không và nếu có thì với lượng bao nhiêu. Vì nhiều thuốc bài tiết vào sữa mẹ, cần thận trọng khi sử dụng sertraline cho phụ nữ đang cho con bú.
Tương tác thuốc
- Sử dụng đồng thời một số thuốc trên các bệnh nhân đang dùng các thuốc ức chế chọn lọc tái hấp thu serotonin có thể gây ra hội chứng serotoninergic.
Chống chỉ định
Các thuốc ức chế MAO
- Sertraline không được sử dụng đồng thời với các thuốc ức chế MAO, bao gồm thuốc ức chế chọn lọc MAO selegiline và thuốc ức chế thuận nghịch MAO moclobemide. Đã có báo cáo về các phản ứng có hại nghiêm trọng, một vài trường hợp dẫn tới tử vong, ở các bệnh nhân dùng sertraline đồng thời với các thuốc ức chế MAO. Trong một số trường hợp, các triệu chứng tương tự như trong hội chứng serotoninergic.
Pimozide
- Tăng các mức pimozide trong huyết tương đã được quan sát thấy trong các nghiên cứu lâm sàng sau khi sử dụng đồng thời sertraline và 1 liều thấp pimozide (2mg). Các mức tăng này không liên quan đến sự biến đổi điện tâm đồ. Cơ chế của tương tác này còn chưa được biết. Chống chỉ định sử dụng đồng thời sertraline và pimozide vì có thể làm tăng nguy cơ loạn nhịp tim và kéo dài khoảng thời gian QT liên quan đến việc sử dụng pimozide.
Các thuốc không đề nghị sử dụng đồng thời với sertraline
Các chất serotonergic
- Trên thực tế không có đầy đủ tài liệu về việc sử dụng đồng thời sertraline với các chất serotonergic như: Tryptophan, fenfluramine, sumatriptan, dextromethorphan, pethidine, tramadol và các chất chủ vận serotonin, việc kết hợp này là nên tránh và chỉ sử dụng khi có sự giám sát thích hợp.
Thay đổi việc sử dụng các thuốc ức chế chọn lọc tái hấp thu serotonin hoặc các thuốc chống trầm cảm khác
- Kinh nghiệm về thời gian tối ưu để chuyển từ việc sử dụng các thuốc chống trầm cảm khác sang dùng sertraline còn hạn chế. Cần quan tâm và đánh giá một cách thận trọng về y học khi chuyển thuốc, đặc biệt đối với các thuốc tác dụng lâu dài. Khoảng thời gian giãn cách cần thiết khi chuyển từ một thuốc ức chế chọn lọc tái hấp thu serotonin sang một thuốc khác chưa được thiết lập.
Với thuốc từ cây cỏ St John
- Tránh sử dụng đồng thời thuốc từ cây cỏ St John’s (cây nọc sởi) ở các bệnh nhân đang dùng các thuốc ức chế chọn lọc tái hấp thu serotonin vì có nguy cơ của hội chứng serotoninergic.
Thận trọng
Với các thuốc khác
Các chất gắn kết mạnh với protein huyết tương
- Do độ gắn kết cao với protein, tương tác của sertraline với các thuốc cũng gắn kết cao với protein huyết tương khác là có thể xảy ra.
Các tương tác khác được ghi nhận trong các nghiên cứu
- Sử dụng đồng thời sertraline và diazepam hay tolbutamid gây biến đổi nhẹ nhưng đáng kể về mặt thống kê các thông số dược động học. Cimetidine làm giảm tốc độ thanh thải của sertraline khi sử dụng đồng thời. Các liên quan về lâm sàng của các hiệu ứng này còn chưa được biết.
- Sertraline không ảnh hưởng đến hiệu lực của atenolol, không tương tác với glibenclamide hay digoxin. Tác dụng của carbamazepine, haloperidol, phenytoin và rượu không bị ảnh hưởng khi dùng đồng thời với sertraline. Tuy nhiên khuyến cáo không uống rượu trong khi điều trị với sertraline.
Các thuốc hạ đường huyết
- Sertraline có thể gây biến đổi việc kiểm soát đường huyết. Do đó cần kiểm soát mức glucose trong máu khi bắt đầu sử dụng sertraline ở các bệnh nhân đái đường.
Các thuốc chống đông đường uống, các dẫn xuất của acid salicylic và các thuốc kháng viêm không steroid
- Sử dụng đồng thời sertraline và warfarin gây tăng nhẹ nhưng đáng kể về mặt thống kê thời gian prothrombin, cần kiểm tra chặt chẽ thời gian prothrombin khi bắt đầu hoặc khi kết thúc điều trị với sertraline.
- Có khả năng tăng nguy cơ chảy máu khi các thuốc ức chế chọn lọc tái hấp thu serotonin được phối hợp với các thuốc chống đông máu đường uống, các dẫn xuất của acid salicylic, các thuốc chống viêm không steroid, các thuốc ức chế tâm thần không điển hình, các phenothiazine và phần lớn các thuốc chống trầm cảm 3 vòng.
Các thuốc bị chuyển hóa bởi enzym Cytochrom P450
- CYP 2D6: Trong các nghiên cứu về tương tác thuốc, nồng độ ổn định trong huyết tương của desipramine chỉ tăng một lượng rất nhỏ (23 – 37% giá trị trung bình) trong suốt thời gian dài sử dụng sertraline với liều 50mg/ngày.
- CYP 3A3/4: Các nghiên cứu in vivo về tương tác thuốc đã chỉ ra rằng: sử dụng sertraline trong thời gian dài với liều 200mg hàng ngày không gây ức chế CYP 3A3/4-mediated 6-3-hydroxylation của cortisol nội sinh hay sự chuyển hóa của carbamazepine và terfenadine. Không thấy có sự ức chế chất chuyển hóa trung gian CYP 3A3/4 của alprazolam trong suốt thời gian dài sử dụng sertraline với liều 50mg/ngày. Kết quả các nghiên cứu cho thấy không có sự ức chế hoạt tính của CYP 3A3/4 trên lâm sàng do sertraline.
- CYP 2C9: Các nghiên cứu về tương tác thuốc tiến hành trong thời gian dài trên sertraline 20mg/ngày cùng với tolbutamide, phenytoin và warfarin, kết quả có thể thấy thuốc có khả năng ức chế CYP 2C9.
- CYP 2C19: Không có bất kỳ ảnh hưởng nào đáng kể về lâm sàng khi sertraline được sử dụng với liều 200mg/ngày đối với nồng độ trong huyết tương của diazepam, điều này cho phép kết luận sertraline không ức chế CYP 2C19 ở bất cứ quy mô nào trên lâm sàng.
- CYP 1A2: các nghiên cứu in vitro đã chứng minh rằng sertraline ức chế rất ít hoặc không ức chế CYP 1A2.
Lithi và trypthophan
- Trong các nghiên cứu có kiểm soát với giả dược khi sử dụng đồng thời lithi và sertraline trên những người khỏe mạnh: Không thấy có sự thay đổi về dược động học của lithi, mặc dù có sự gia tăng hiện tượng run, rùng mình so với nhóm dùng giả dược, điều này cho thấy có thể có sự ảnh hưởng đến dược lực học. Sử dụng đồng thời có thể dẫn tới hội chứng serotoninergic. Đã có các báo cáo khác về việc tăng tác dụng khi các thuốc ức chế chọn lọc tái hấp thu serotonin được sử dụng cùng với lithi hay trypthophan và do đó việc phối hợp các thuốc này cần được tiến hành thận trọng.
Các thuốc lợi tiểu
- Khi sử dụng đồng thời với các thuốc lợi tiểu (đặc biệt ở người già), nguy cơ giảm natri huyết tăng lên, cũng như nguy cơ tiết hormon chống bài niệu không thích hợp.
Phenytoin
- Mặc dầu không có sự ức chế đáng kể trên lâm sàng đối với chuyển hóa của phenytoin được quan sát thấy trong một nghiên cứu có kiểm soát với giá dược ở những người khỏe mạnh, cần theo dõi nồng độ phenytoin trong huyết tương khi bắt đầu điều trị với sertraline và điều chỉnh liều phenytoin một cách thích hợp. Sử dụng đồng thời với phenytoin có thể làm giảm các mức sertraline trong huyết tương.
Sumatriptan
- Trong số hiếm các trường hợp, yếu mệt, tăng phản xạ, khó phối hợp, lẫn lộn, lo âu và bối rối đã được báo cáo có liên quan đến việc sử dụng đồng thời sertraline và sumtriptan. Các bệnh nhân do đòi hỏi về lâm sàng phải sử dụng đồng thời sertraline và sumtriptan phải được theo dõi một cách thích hợp.
Phenazone (antipyrine)
- Thời gian bán thải của antipyrine giảm xuống khi sử dụng đồng thời với sertraline.
Các thuốc chống trầm cảm 3 vòng
- Cần thận trọng khi sử dụng các thuốc ức chế chọn lọc tái hấp thu serotonin cùng với các thuốc chống trầm cảm 3 vòng vì nguy cơ tăng nồng độ của thuốc trong huyết tương.
Reviews
There are no reviews yet.